
Hình minh họa: Con hà, lạ mà quen, quen mà lạ. Bách Khoa Tri Thức
(Nguồn ảnh: Internet)
Hỏi con hà - tiếng Anh là “barnacles” - là con gì thì hầu hết mọi người được hỏi đều lắc đầu: “Không biết!” Có lẽ tại ta không chú ý tới nó lắm. Bởi vì, nếu bạn ở vùng gần bờ biển có vách đá hoặc bờ biển không phải là bãi cát, hoặc bãi biển có những tảng đá lớn... thì chắc chắn bạn đã trông thấy con hà. Có điều không bao giờ bạn thấy từng con - dù là nhỏ - bò loe ngoe đâu. Bạn có để ý đến những “váng” đóng bám vào các tảng đá chỗ lé mé bờ nước không. Nó đó, những “váng” đó gồm hàng triệu triệu con hà nhỏ tí ti.
Hà thật ra chỉ là loài sò hến li ti (shellfish). Vừa nở ra khỏi vỏ trứng là hà đã bơi loạn cả lên. Nhưng, khi trưởng thành thì hà lại trở nên ù lì, không “quậy” tứ tán nữa mà bám vào nhau tạo thành “váng” và bám vào bề mặt một vật nào đó thuận tiện như mặt ngoài tảng đá chẳng hạn. Đến lúc này thì chúng mất hẳn khả năng di động.
Cái tập tính hàng tỉ con hà bám vào nhau rồi bám vào vật nào đó trở thành mối nguy cho người. Chẳng hạn, nếu sườn tàu bị những mảng váng hà bám phủ kín hết thì nó có thể làm giảm tốc độ của tàu tới 50% chớ không ít. Thời kỳ những tàu thuyền nhỏ và chạy bằng sức gió (buồm) thì sự kiện ấy là một mối nguy, không những vì nó giảm tốc độ mà còn vì nó bám vào bánh lái tàu khiến cho việc lái tàu vào những cảng nhỏ càng khó khăn thêm.
Thời mà vùng biển Caribean còn bị các cướp biển tung hoành thì người ta thường thấy những tàu cướp biển phải “ủi bãi” trên một đảo hoang nào đó để cạo bỏ lớp hà bám vào sườn tàu, bánh lái. Sau hai năm dọc ngang trên đại dương, các tàu săn cá voi ngày xưa - dù có săn được hay không, nhiều hay ít - cũng phải quay về để cạo bỏ lớp hà bám vào sườn tàu, bánh lái. Và ngay thời nay, các tàu biển với máy cực mạnh như vậy, thế mà vẫn bị hà làm cho hao tốn bộn mỗi năm và mất một thời gian không phải là ít để sửa lại máy móc, nhất là để cạo bỏ lớp hà bám vào vỏ tàu. Như ở trên đã nói, vừa nở ra khỏi trứng là đám “hà nhóc” bơi loạn xạ cả lên, nhưng một khi đã tìm được chỗ bám thì chúng lại trở thành dân định cư rất lì. Và, khi đã định cư, hà mới bắt đầu phát triển cái vỏ để bao kín toàn thân. Lúc đó chỉ có một bộ phận của hà là còn cử động, đó là bộ râu tua của nó. Bộ râu này gồm sáu cặp tua bằng “da” và chúng ở im một chỗ, dùng bộ râu tua này để “quơ” những sinh vật nhỏ li ti, lùa vào miệng làm thức ăn.
Từ Khóa:
Con hà, lạ mà quen, quen mà lạ || Bách Khoa Tri Thức || Khám phá thế giới
Không có giống chim nào được các thi sĩ ưa nhắc tới cho bằng chim sơn ca. Tiếng hót của nó được coi là hay nhất, du dương nhất trong tất cả các loài chim đến nỗi không ai có thể lột tả được hết cái sức quyến rũ của tiếng hót ấy. Thật vậy, các văn thi sĩ th
Từ bốn ngàn năm trước, chim cú đã được con người gán cho một ý nghĩ đặc biệt. Người xưa có nhiều điều dị đoan liên quan đến chim cú, nhất là tiếng “rúc” của loài chim này. Nhiều nơi ở châu Âu, tiếng cú kêu bị coi là dấu hiệu của sự chết chóc. Ấy vậy mà thờ
Toucan là giống chim lạ nhất trong loài chim, có thể nói là một giống chim dị tướng nhất. Cái “lạ và dị” ấy biểu hiện trước hết ở cặp mỏ lớn ngoại khổ của nó. Cặp mỏ lớn hơn cái đầu bội phần. Có vài giống Toucan, chỉ cái mỏ không thôi đã bằng 1/3 chiều dài
Một trong những điệu “múa” đẹp nhất của công là khi nó nhỏng và xòe cái đuôi rẻ quạt của nó. Ngay từ thời xa xưa, người Hy Lạp và La Mã cổ đã coi công là con chim thần.
Nhiều người cứ tưởng giống chim cánh cụt này chỉ sống ở những miền giá lạnh như ở Bắc hoặc Nam cực chẳng hạn. Thật ra chỉ ở Nam bán cầu mới có chim cánh cụt. Chúng sống dài dài ở Nam cực (chớ Bắc cực thì không), ở lục địa Nam cực và những hòn đảo quanh qua
Mặc dù mang cái tên ấy, hải mã (ngựa biển) lại thuộc loài cá, mặc dù trên thân thể của nó có rất ít chi tiết gợi cho người ta cái bản chất “cá” của nó. Có thể nói, đầu của nó có hình dáng y chang đầu ngựa. Toàn thân thay vì phủ vảy thì lại phủ một lớp “đin
Mặt trong những sinh vật biển có hình dạng kỳ cục nhất là con sao biển. Tiếng Anh gọi là “starfish” nghĩa là con cá hình ngôi sao. Nhưng, bà con của nó không phải là loài cá mà là “sứa cầu gai”, là “dưa leo biển” và “đô la cát” (sand dollar). Họ hàng nhà s
Tổ tiên của giống cá vàng là cá chép. Trong các sông hồ ở Nhật Bản và Trung Quốc, giống cá chép màu xám lục nhạt sinh sống rất nhiều. Cũng chính nơi đây mà giống cá vàng đầu tiên phát triển.
Vào nhà hàng, bạn gọi món sò chiên. Nhìn vào đĩa thức ăn do người phục vụ dọn lên, bạn lấy làm ngạc nhiên là bạn chưa thấy sinh vật này ở dưới nước bao giờ. Vậy thì món thức ăn mà bạn gọi là “sò” kia là thịt của sinh vật nào? Thật ra, đúng là “sò” đó bạn.
Mực tuộc thuộc lớp sinh vật có tên khoa học là “cepha-lopoda” có nghĩa “chân lộn lên đầu” bởi vì chân của chúng chia thành nhiều tua dài và mọc ngay xung quanh “đầu”. Mực tuột có tới 8 cái chân như vậy.
Vào thời Columbus giong buồm đi tìm châu Mỹ, có câu chuyện truyền thuyết kể rằng trong đại dương có những thủy quái từ dưới lòng đại dương đục thủng đáy tàu và lôi các thủy thủ xuống lòng đại dương. Tất nhiên là phóng đại. Làm gì có những thủy quái như vậy
Tất cả những ai đã từng nuôi chim yến hẳn đều biết cái mai mực (cuttle-bone) mà ta dùng để cho chim yến mài cái mỏ của chúng. Tuy nhiên, ngoài cái mai mực ra thì hầu như chẳng mấy ai biết tường tận về loài cá mực. Ta gọi “cá mực” thật ra là sai. Mực không
Nếu cá trê biết nói, nó sẽ phủ nhận: “Sao lại gọi mấy sợi tua quanh mép tôi là râu? Nó có phải râu ria gì đâu mà gọi ẩu!” Cá trê có lý chỉ vì ta “trông mặt đặt tên”, thấy mấy sợi tua quanh miệng cá trê - giống như mấy sợi râu - thế là ta gọi là “râu”, chớ
Để hiểu tàn nhang là cái gì và nó xuất hiện như thế nào thì trước hết ta phải hiểu cái gì tạo ra màu sắc trên làn da con người.
Copyright © 2018. Designed by Nvton. All rights reseved